(LUUTOC.VN) – Giới thiệu sơ bộ các dòng họ Lưu Việt Nam hiện đang sinh sống trên mọi miền Đất Nước.Ban Liên lạc Lưu Tộc VN chúng tôi rất ước mong thành viên gia tộc những dòng họ Lưu ở các địa phương gửi thêm thông tin về dòng họ của mình để chúng tôi thống kê cập nhập bổ sung đầy đủ, tạo thêm nhiều dữ liệu cho bà con Họ Lưu tìm hiểu về cội nguồn dòng tộc Tổ tiên.

1. Đạo sĩ họ Lưu ( ? – 258 TCN)

Nước Văn Lang, trong sự tích trầu cau thời Hùng Vương, con gái đạo sĩ họ Lưu lấy người anh (hai em trai sinh đôi), con của quan lang họ Cao đều là học trò của Lưu đạo sĩ.

2. Họ Lưu từ Đông Hán, Trung Quốc (114 – ?)

Lưu Tạo do Hán Kiến Khang cử sang làm Thứ sử Cửu Chân (vùng Thanh Hóa và Nghệ An)…

3. Họ Lưu ở Hoa Lư, Ninh Bình (898 – ?)

Cư trú tại Bồ Bát, Bạch Liên, Yên Mô, Ninh Bình có 2 Cụ Tổ : Lưu Hỷ (chưa rõ năm sinh & thân thế) và Thái sư Lưu Cơ.

Riêng nhân vật lịch sử là Lưu Cơ, (sinh ngày 03/01/924 – 997), là 01 trong 04 vị khai quốc công thần Nhà Đinh, là Thái sư Đô hộ phủ Đại La nhà Tiền Lê; Người có công tu sửa Thành Đại La (971-1010) từ An Nam đô hộ phủ của Nhà Đường (hướng Bắc) trở thành Tòa thành Đại Cồ Việt (cải tạo xoay cổng thành chính là hướng Nam) và bàn giao thành Đại La cho Lý Thái Tổ vào năm 1010. Ông mất năm 73 tuổi, Đền thờ Ông được nhân dân lập tại làng Đại Từ, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Theo: Đình phả Thái sư Lưu Cơ hiện còn lưu giữ tại Đền thờ làng Đại Từ, xã Đại Đồng huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

4. Họ Lưu ở Lưu Xá (Lưu Gia), huyện Ngự Thiên, lộ Long Hưng -“thôn Lưu Gia thuộc Hải Ấp” (làng Lưu Xá, xã Tân Canh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình hiện nay) (?~939)

Có : Cụ Thái bảo Lưu Ngữ và 3 người con của Ông là : Thái Phó Lưu Khánh Đàm; Thái Phó Lưu Khánh Điều (Lưu Ba) và Lưu Lương
• Đất Lưu Xá (Ngự Thiên) là đất được phân phong cho Lưu Ngữ, là dòng cự tộc, gốc Ái Châu (Hưng Hóa, Thanh Hóa), là công thần mở vương triều Nhà Lý. Lưu Ngữ theo Lê Hoàn giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân; sau lại phù Lê tướng quân đánh quân Hầu Nhân Bảo ở ải Chi Lăng. Khi Lê Hoàn lên ngôi, Lưu Ngữ giữ chức Đô Hỏa đầu (quan võ trong triều) và được ban lộc điền ở huyện Ngự Thiên, phủ Thái Bình. Cụ đưa vợ và thân thích từ quê Hưng Hóa ra lập nên ấp Lưu Xá.

Ông sinh 3 con trai ở Lưu Xá; Lưu Khánh Đàm làm đến Thái Úy (Tể tướng); Lưu Khánh Điều làm đến Thái Phó (Phó Tể tướng); và Lưu Lương giúp dân trị thủy sông Hồng, sông Luộc, sông Hóa. Lưu Đàm và Lưu Điều cùng hai em nuôi Kỳ Công và Huy Công là đại tướng triều Lý, đều được phong là đại vương được thờ tại đền Lưu Xá.

Cụm di tích tâm linh Lưu Xá ngoài Đền thờ còn có Đình thờ Thành hoàng Lưu Ngữ, có chùa Báo Quốc (do vua Lý Thánh Tông ban tên năm 1005).

– Đời vua Lý Cao Tông (1173-1210), Lưu Xá có Lưu Thiệu là gia thần.

Cuối triều Lý ở Lưu Xá có Lưu Thiệu, Lưu Vũ Nhĩ cghi trong sử sách. Tiếp theo thời Lê Sơ họ Lưu từ Triệu Tổ Lưu Ngữ nối đời có các bậc khoa bảng như Lưu Diễn (1232), Lưu Miễn (1239), Lưu Thúc Kiệm (1400), Lưu Thúc Ngạn (1463), Lưu Hy (1478), Lưu Hưng Hiếu (1481)…

Tiến sỹ Lưu Đức An (1490-1562) có lẽ là con cháu dòng họ Lưu phủ Thái Bình (sau đổi thành phủ Tiên Hưng); đời Lê Cung Hoàn (1522-1527) còn có người họ Lưu làm đến Gián nghị đại phu; đến nay tuy không có người họ Lưu ở Lưu Xá, nhưng nhân dân địa phương vẫn giữ tên làng, thuần phong mỹ tục cổ xưa.

– Đất Lưu Xá là nơi gặp gở của Thái tử triều Lý và Trần Thị Dung – mở ra kỷ nguyên mới cho nhà Trần (1226-1400). Lưu Xá được ghi dấu ấn của 2 vua Trần (Thánh Tông, Nhân Tông), Thượng Tướng Trần Quang Khải (với bài thơ “Lưu Gia Độ” đã tạ ơn tứ thần Đại vương ở đền Lưu Xá đã giúp vận chuyển lương thảo và vũ khí kịp ra trận đánh thắng quân Nguyên), được vua Lê Hiến Tông đến thăm viếng (13/04/1501) đền chùa, lăng mộ và cho tạc bia đá ghi dấu ấn v.v.

Theo: – Ngọc phả tại Đền “Nhị vị Lưu Đại vương”, ở thôn Lưu Xá, xã Canh Tân, Hưng Hà,Thái Bình.
– Gia phả họ Lưu ở Tường Lai, Yên Thành, Nghệ An

5.Họ Lưu ở làng An Bài, xã An Bài, Quỳnh Phụ, Thái Bình

Có nguồn gốc tại Cao Bằng; Lưu Hữu Dũng (1250) thuộc đội quân Thánh Dực, đã tham gia kháng chiến chống Mông Nguyên lần thứ nhất (1258).

Đời thứ 16 năm 1600 (thời Lê trung hưng) Cụ Lưu Vĩnh Tân (làm Tả Thừa Tướng) đi tìm dòng họ nhưng không thấy nên viết gia phả, suy tôn Đời thứ 2 – Lưu Quang Sùng và Lưu Vĩnh Thái là Thủy Tổ; con cháu lưu truyền đến nay là đời thứ 33.

Theo: Gia phả họ Lưu tại làng An Bài, Quỳnh Phụ, Thái Bình

6.Họ Lưu ở Thuận Thành, Bắc Ninh

Làng Trạm Lệ, huyện Gia Bình, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc (nay thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh)

– Lưu Thúc Kiệm, sinh 1373 mất 08/12/1434. Cụ đỗ Đệ nhất Thái học sinh (Trạng nguyên) khoa thi Thánh Nguyên 1 năm 1400 (đời Hồ Quí Ly), cùng khoa với đệ nhị Thái học có Nguyễn Trãi, Vũ Mộng Nguyên, Lý Tử Trần; làm quan đến Trực Hàn lâm Đại học sĩ. Khi nhà Hồ bị diệt vong cụ về ẩn ở Thanh Hóa, sau về quê xã Trạm L, huyện Gia Định, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc.

– Đời thứ 2: Lưu Thúc Khiêm sinh 1403; Khi tướng quân Lưu Nhân Chú tiến quân ra Khoái Châu (Bắc Giang) đánh quân Minh, Cụ đi theo và lập nhiều chiến công… làm đến chức Đại quan triều Lê Thánh Tông, 1451 được ban họ Vua là Lê Khiêm.

– Đời thứ 3: Lưu Thắng An sinh 1468 là con của em ruột Lưu Thúc Kiệm, năm 1493 đỗ Đệ Tam Tiến sỹ (đời Lê Thánh Tông), làm quan đến Đô cấp sự trung.

– Đời thứ 4: Lưu Doãn Trung, sinh 1501 đỗ Đệ nhất giáp Tiến sỹ năm 1526, làm quan đến chức Thị Lang.

– Họ Lưu ở Thuận An, xã Trạm Lỗ đã đi khắp mọi nơi như Cao Bằng, Yên Bái, Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc Giang, Lâm Đồng, Bình Định, TP Hồ Chí Minh…sau khi quan Thị Lang Lưu Doãn Trung không chịu làm quan cho nhà Mạc.

Ông Lưu Xuân Thanh là hậu duệ Đời thứ 16 của Sơ Tổ Lưu Thúc Kiệm đang sinh sống ở Quy Nhơn cho biết hiện nay chỉ có một người anh em sống ở gần quê – thị trấn Hồ (làng tranh Đông Hồ)

7. Họ Lưu tại xã Thuận Thượng, huyện Đại Từ, phủ Thái Nguyên (xã Văn Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên hiện nay)

Có : 2 Cụ Tổ là – Lưu Nhân Chú
– Lưu Trung

– Lưu Nhân Chú ( ? – 1433) sinh ra và lớn lên trong một gia đình hào phú ở xã Thuận Thượng (nay là xã Văn Yên, Đại Từ, Thái Nguyên). Năm 1416, cha con Ông Lưu Nhân Chú cùng với Lê Lợi và các hào kiệt, tham gia Hội thề Lũng Nhai, dựng cờ khởi nghĩa đánh đuổi giặc Minh. Ông được phong là Tướng Quốc, nhưng về sau bị Lê Sát ghen ghét giết hại Ông vào năm 1433; mãi năm 1484 vua Lê Thánh Tông truy tặng Lưu Nhân Chú là Thái phó Vinh quốc công.

– Lưu Trung ( ? – 1459) người Thuận Thượng, Đại Từ, Thái Nguyên. Năm 1416 Ông cùng họp mặt với Lê Lợi và một số nhân vật tham gia Hội thề Lũng Nhai. Ông được giữ chức Thứ thử (một chức tướng trong quân đội). Ông chỉ huy nhiều trận đánh và dành thắng lợi vẻ vang, năm 1428 Vua Lê Thái Tổ định công ban thưởng cho các công thần khai quốc, Lưu Trung được gia phong chức lớn, và ban cho 100 mẫu ruộng ở các nơi. Lưu Trung mất năm Diên Ninh thứ 6 (1459), Ông là niềm tự hào của người dân Thái Nguyên.

8. Họ Lưu làng Vũ Nghị, huyện Thần Khê, phủ Tân Hưng ( thôn Vũ Nghị, xã Thái An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ngày nay).
– TS.Lưu Đức An (1490-1562) Sinh ra và lớn lên cuối thời Lê sơ (1420-1527) có nhiều loạn lạc, 30 tuổi lấy vợ và nương nhờ nhạc phụ ở Thanh Lan, trước lúc Mạc Đăng Dung lên ngôi. Được bên vợ động viên, ông miệt mài nghiên sách và thi đỗ đồng Tiến sỹ (1538). Ông đã từng là Giám sát ngự sử trong cung để can dán cho vua, rồi giữ chức Tả Lang Đạo Kinh Bắc cai quản Bắc Ninh, Bắc Giang; Hiến Sát sứ trấn Vĩnh Định (Nghệ An); Thanh hình hiến sát sứ Lạng Sơn (vùng biên giới); và được nhà Mạc phong hàm Tự Khanh, bậc Khanh hầu.

Ông mất ngày 12/01/1562 hưởng thọ 72 tuổi. Nhân dân tôn thờ Ông là Á Thần, phối thờ với Thành hoàng Lâm Giang Tự tại làng Vũ Nghị. Ân đức của TS.Lưu Đức An có ảnh hưởng lan tỏa đến họ Lưu trong nhữnng nơi Ông cai quản, Ông đã làm rạng rỡ dòng tộc họ Lưu ở Thái Bình, tôn vinh cho Tổ là Tham chính Lưu Dẫn.Từ đường Tiến sỹ Lưu Đức An đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh, lăng mộ của Ông được tu bổ thường xuyên.

– TS.Lưu Đức An khi vào trấn hiệp Nghệ An đã lập ra dòng họ Lưu tại xã Tư Trì, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Theo bề dày lịch sử dòng họ Lưu ở đây đã tách thành hai chi: một ở tại xã Tự Trì trước kia (nay là xã Hùng Tiến, huyện nam Đàn, tỉnh Nghệ An) và một chi định cư tại xã Hưng Đạo, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

Theo : Hồ sơ Di tích Tiến sỹ Lưu Đức An (Bảo tàng tỉnh Thái Bình)
Theo TS Lưu Văn Thành (Sưu tầm & Tổng hợp)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *